Chuyện đọc đêm khuya - Chiếc két ở đâu - Phần 2

Hornore mặc cho cảnh sát lôi đi. Ông chẳng buồn tìm hiểu nữa. Ông chẳng buồn phản kháng nữa
Nhưng ông đã lầm. Ông tìm thấy tiệm tạp hóa, nhưng vợ ông đã biến mất đâu. Chẳng có gì đáng ngại, hẳn vợ ông về bên gia đình của bà. Rồi ông sẽ nhận được tin của vợ mình. Nhưng Hornore không có thời gian: Sáng sớm 12 – 2 – 1945, ông giật mình thức giấc vì có tiếng đập rất mạnh, kèm theo tiếng người quát: Cảnh sát đây, mở cửa! Cửa vừa mở, Hornore nhận thấy hai nhân viên cảnh sát đứng chờ: Ông Hornore? Mời theo chúng tôi. Ông có thể mang theo đồ dùng cá nhân. Nhưng tại sao lại bắt tôi? Chúng tôi cũng không rõ. Ông sẽ trả lời trước cấp trên. Cấp trên, mà Hornore trình diện sau đó không lâu với hai tay bị còng, nói rõ lý do ông bị bắt: Ông bị cáo buộc tội phản quốc! Hornore phản đối, la hét dữ dội, không thể nào! Hẳn lại là chiếc két phi lý đó hại ông. Ông mà phản quốc? Ông đã từng bị Đức kết án tử hình đó sao? Vào thời gian ấy, cảnh sát ngập tràn. Đó là lúc cần giải quyết mọi việc nhanh gọn. Nhân viên cảnh sát cấp trên chỉ đáp: Được rồi, anh sẽ giải thích mọi chuyện trước tòa. Và nửa tháng sau, Hornore ra trước tòa đại hình. Tòa đầy cảnh sát đứng gác. Các vụ xử diễn a liên tục và không khí chẳng có vẻ khoan nhượng chút nào. Ít nhất, trước các thẩm phán, Hornore cuối cùng cũng biết mình phạm tội mình. Nhiều nhân chứng đứng trước vành móng ngựa. Họ nhìn mặt ông. Họ khẳng định, theo đúng thủ tục: Chính hắn! Tôi đã thấy hắn trên đường phố, hồi tháng 7 – 1942, đi cùng với bọn Gestapo. Hornore nhớ lại: Chiếc áo khoác và cặp kiếng mát. Chuyện này thật phí lý cùng với toàn bộ câu chuyện. Chiếc két này người ta nói sẽ chỉ cho ông thấy, nhưng rồi chẳng có chiếc két nào cả. Ông la lên: - Nhưng tôi là tù nhân của Gestapo, tôi bị tra tấn, tôi bị bọn Đức kết án tử hình. Chẳng ai nghe ông, sau một thoáng hội ý, tòa đưa phán quyết: Hornore, ông bị kết án tử hình về tội phản bội tổ quốc. Hornore mặc cho cảnh sát lôi đi. Ông chẳng buồn tìm hiểu nữa. Ông chẳng buồn phản kháng nữa. Tất cả đều phí lý. Và rồi sao? Há chẳng phải số phận của bao nhiêu con người bị đày trong các trại tập trung cũng đều phi lý đó sao? Ông trở thành một nạn nhân chấp nhận số phận của mình. Vậy mà, chính vào lúc ấy, Hornore lại biết được sự thật. Trong trại giam tử tù, ông gặp những người Pháp theo Gestapo trước đây, và đặc biệt trong số đó có tay thấp người tóc nâu. Nhận ra ông, anh ta lại gần, anh ta không tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng dường như hối hận: Ông bạn già tội nghiệp, tôi cần nói hết với ông. Đối với tôi, thế là xong, tôi chẳng còn gì để mất nữa cả. Và anh chàng Gestapo thấp người tóc nâu này kể hết đầu đuôi: Chắc chắn chẳng bao giờ có cái két nào. Chính vợ ông chịu trách nhiệm về tất cả mọi chuyện. Bà ta ngủ với một viên tướng Đức. Nhưng rồi ông lại bất ngờ được tha về, khiến viên tướng phải yêu cầu chúng tôi phải kiếm cách trừ khử ông. Nhưng bởi ông đâu có làm gì bậy, nên không lẽ tự nhiên xách ông ra bắn bỏ. Thế là ông ta có một ý kiến ngộ nghĩnh. Ông ta ra lệnh cho tôi dắt anh ra đường phố, ăn mặc y như bọn chúng tôi. Như vậy, khi dàn cảnh cho ông trốn thoát, ông cũng sẽ bị quân khán cua chiến lôt da. Vậy đó, đó là lời giải thích khó tin của hàng loạt sự kiện khiến Hornore bị hai lần kết án tử hình. Nhưng câu chuyện của ông chưa kết thúc tại đây. Được Hornore thuyết phục, tay Gestapo thấp người tóc nâu đồng ý viết đơn thú tội và đề nghị ân xá cho Hornore n xá chứ không phải phục hồi danh dự. Bởi công lý không dễ gì thay đổi quyết định đã ban hành. Hornore suýt chết dưới sự tra tấn của Gestapo, thoát khỏi bị quân kháng chiến bắn bỏ, được ân xá từ tử hình xuống còn chung thân khổ sai. Mặc mọi khiếu tố, ông vẫn ở tù suốt bảy năm. Phải nhờ đến một chiến dịch của các phương tiện thông tin đại chúng ông mới được trả tự do trước thời hạn. Ông ra tù năm 1952 và đến năm 1956 mới được phục hồi, sau mười bốn năm chịu đựng bất công. Hornore sau đó tái hôn. Người vợ trước của ông, người vợ xinh đẹp, người chịu trách nhiệm về mọi việc, chẳng biết đã biến đi đâu mất. Ông bắt đầu trở lại cuộc sống như bao nhiêu người dân bình thường khác. Ông kể: “nhưng cho đến lúc chết, tôi vẫn còn nghe văng vẳng những cơn ác mộng tiếng mình thét lên: “chiếc két ở đâu?”. Phỏng tác từ một câu chuyện của Bellemare.
19/05/2016 , Quang Hùng – Kiến thức ngày nay – năm 2006.

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *